Cung mệnh, mệnh nạp âm và hành của năm: ba thứ cùng tên “mệnh” nhưng khác hẳn nhau
Các bài trước trong mục Cung mệnh đã dạy công thức, hai mốc tính tuổi, tám hướng và cách dung hoà trong nhà nhiều người. Bài này giải quyết một chuyện gây rối hơn bất cứ công thức nào: người mới đi hỏi ba nơi về “mệnh” của mình thì nhận về ba câu trả lời khác nhau, và nghĩ rằng có hai nơi nói sai.
Thường thì không ai sai cả. Ba nơi đó đang dùng ba hệ khác nhau, cùng gọi bằng một chữ “mệnh”.
Ba hệ, ba câu hỏi khác nhau
- Cung mệnh (còn gọi cung phi, quái mệnh): thuộc phái Bát trạch. Tính từ năm sinh và giới tính, ra một trong tám quái. Dùng để xác định hướng tốt hướng xấu của một người.
- Mệnh nạp âm: tính từ cặp can chi của năm sinh, ra một trong ba mươi tên như Hải trung kim, Lộ bàng thổ. Không phân nam nữ. Dân gian dùng nhiều nhất để xem hợp tuổi, chọn màu.
- Hành của thiên can năm sinh: chỉ nhìn chữ can (Giáp, Ất, Bính…) và lấy hành của nó. Ít khi được gọi là “mệnh” một cách chính thức, nhưng nhiều nơi vẫn dùng như vậy.
Còn có một hệ thứ tư, sâu hơn hẳn: nhật chủ trong tứ trụ, lấy theo thiên can của ngày sinh. Hệ này cần cả ngày giờ sinh, thuộc môn tứ trụ, nằm ngoài phạm vi bài này. Chỉ cần biết nó tồn tại để khỏi lẫn.
Tính tay một ví dụ: nam và nữ sinh năm 1990
Năm 1990 (tính từ Lập xuân năm đó) là năm Canh Ngọ.
- Hành của can: Canh thuộc Kim. Nam hay nữ đều là Kim.
- Nạp âm: cặp Canh Ngọ – Tân Mùi là Lộ bàng thổ (đất ven đường). Nam hay nữ đều là Thổ.
- Cung mệnh nam: với người sinh trước năm 2000, lấy 100 trừ hai số cuối năm sinh: 100 − 90 = 10. Chia 9 dư 1. Số 1 là Khảm, hành Thuỷ, thuộc Đông tứ mệnh.
- Cung mệnh nữ: lấy hai số cuối trừ 4: 90 − 4 = 86. Chia 9 dư 5. Nữ gặp số 5 thì lấy Cấn, hành Thổ, thuộc Tây tứ mệnh.
Vậy cùng sinh năm 1990, một người nam có thể được nói là “mệnh Kim” (theo can), “mệnh Thổ” (theo nạp âm) và “cung Khảm, mệnh Thuỷ” (theo Bát trạch). Ba chữ khác nhau, ba việc khác nhau.
Mỗi hệ dùng cho việc gì
- Chọn hướng cửa, hướng giường, hướng bàn: dùng cung mệnh. Đây là đúng địa hạt của Bát trạch. Dùng nạp âm để chọn hướng là lẫn hệ.
- Xem hai tuổi có “hợp” theo dân gian: thường dùng nạp âm kết hợp với quan hệ địa chi (tam hợp, lục xung…). Đây là phần tập tục, nên đọc nhẹ nhàng.
- Chọn màu, chọn vật phẩm theo hành: các nơi dùng lẫn lộn cả ba hệ, nên người mua hay bị rối. Hỏi thẳng người tư vấn: “anh/chị đang tính theo hệ nào?”.
- Luận tính cách, vận hạn: thuộc tứ trụ, dùng nhật chủ chứ không dùng nạp âm hay cung mệnh.
🔴 Lỗi tai hại nhất: đem hệ này trả lời câu hỏi của hệ kia
Lỗi này gặp hằng ngày:
“Chị mệnh Thổ (Lộ bàng thổ), Thổ hợp hướng Tây Nam và Đông Bắc, vậy cửa nhà nên quay về Tây Nam.”
Câu này trộn hai hệ. Hướng Tây Nam, Đông Bắc trong Bát trạch đi theo cung, không đi theo nạp âm. Người nam sinh 1990 nạp âm Thổ nhưng cung Khảm, mà với cung Khảm thì Tây Nam là hướng Tuyệt mệnh, xấu nhất trong tám hướng của chính hệ Bát trạch. Lời khuyên nghe có vẻ hợp lý hoá ra đi ngược lại phái mà nó đang mượn tên.
Nguyên tắc: hỏi về hướng thì dùng cung mệnh; hỏi về tuổi hợp theo tập tục thì dùng nạp âm và địa chi; đừng trộn.
Bẫy Lập xuân: đúng năm thì cả ba hệ mới đúng
Cả ba hệ đều phụ thuộc vào việc xác định đúng năm can chi. Trong phong thuỷ, năm mới bắt đầu từ tiết Lập xuân (quanh ngày 4 tháng 2 dương lịch), không phải từ 1 tháng 1 và cũng không phải từ mùng một Tết.
Ví dụ một người nam sinh ngày 20 tháng 1 năm 1990. Ngày đó còn trước Lập xuân, nên vẫn thuộc năm Kỷ Tỵ (1989). Kết quả đổi hết:
- Can Kỷ: hành Thổ (không còn là Kim).
- Nạp âm Mậu Thìn – Kỷ Tỵ: Đại lâm mộc (không còn là Thổ).
- Cung mệnh nam: 100 − 89 = 11, chia 9 dư 2, là Khôn, Tây tứ mệnh (không còn là Khảm, Đông tứ).
Một ngày sinh lệch hai tuần đổi luôn cả nhóm Đông tây. Đây là lý do khi tư vấn cho người sinh tháng 1 hoặc đầu tháng 2, câu đầu tiên phải hỏi là ngày sinh dương lịch chính xác, chứ không chỉ năm. Một số trường phái và một số công cụ trực tuyến lại tính năm theo Tết âm lịch; khác nhau ở đây là chuyện quy ước, cần nói rõ mình theo quy ước nào.
Vì sao nạp âm không phân nam nữ còn cung mệnh thì có
Nạp âm thuộc về năm: nó là tính chất gán cho cặp can chi, ai sinh năm đó cũng mang chung. Cung mệnh thuộc về người trong hệ Bát trạch: lý thuyết Bát trạch dựa trên âm dương, và quy ước tính cho nam đi một chiều, nữ đi chiều ngược lại trên vòng Lạc thư. Vì vậy hai anh em sinh đôi khác giới có cùng nạp âm nhưng khác cung mệnh.
Đây là quy ước của phái, không phải phát hiện khách quan. Người học nên biết nó là quy ước để đọc tài liệu cho đúng, và để không ngạc nhiên khi một vài trường phái hiện đại đề xuất cách khác.
Bảng nhớ nhanh
- Cung mệnh: nguồn là năm sinh + giới tính; ra một trong tám quái; dùng cho hướng.
- Nạp âm: nguồn là cặp can chi năm sinh; ra một trong ba mươi tên; dùng trong xem tuổi dân gian.
- Hành của can: nguồn là chữ can của năm; ra một trong năm hành; hay bị dùng như “mệnh” một cách giản lược.
- Nhật chủ: nguồn là can ngày sinh; thuộc tứ trụ; cần ngày giờ sinh đầy đủ.
Khi đi hỏi tư vấn, hỏi thế này
- Đưa ngày sinh dương lịch đầy đủ và giới tính, không chỉ năm.
- Hỏi người tư vấn đang tính theo hệ nào và mốc năm là Lập xuân hay Tết.
- Nếu được khuyên về hướng, hỏi: “hướng này là hướng gì trong tám hướng của cung tôi?” Người tính theo Bát trạch trả lời được ngay tên hướng: Sinh khí, Thiên y, Diên niên hay Phục vị.
- Nếu được khuyên mua đồ theo “mệnh”, hỏi đó là hành theo hệ nào. Một món hợp Thổ theo nạp âm có thể chẳng liên quan gì tới cung mệnh của mình.
Nói gọn lại
Một người có thể đồng thời “mệnh Kim”, “mệnh Thổ” và “cung Khảm” mà không có gì mâu thuẫn, vì đó là ba hệ trả lời ba câu hỏi khác nhau. Điều cần giữ: hướng thì theo cung mệnh, xác định đúng năm theo Lập xuân, và mỗi khi nghe chữ “mệnh” thì hỏi lại “mệnh theo hệ nào”. Câu hỏi đơn giản đó loại được phần lớn những lời khuyên chắp vá.