Hào, quẻ đơn, quẻ kép: đọc ký hiệu bát quái từ con số không
Năm bài trước trong mục Bát quái nói về hai đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên, quan hệ với Kinh Dịch, cách áp lên mặt bằng, tám quẻ ứng với tám vai trong nhà và cửu cung Lạc thư. Tất cả đều mặc định người đọc đã nhìn được ký hiệu. Thực tế nhiều người mới nhìn hình bát quái chỉ thấy những vạch ngắn dài lẫn lộn. Bài này lùi lại một bước: dạy đọc chính ký hiệu.
Hào: viên gạch nhỏ nhất
Mỗi vạch trong hình bát quái gọi là một hào. Chỉ có hai loại:
- Hào dương: một vạch liền ▬▬▬.
- Hào âm: một vạch đứt ở giữa ▬ ▬.
Không có loại thứ ba. Toàn bộ hệ thống từ tám quẻ đến sáu mươi tư quẻ đều chỉ là cách xếp chồng hai loại vạch này. Ai đã quen với số nhị phân sẽ thấy ngay sự tương đồng: hai trạng thái, xếp thành chuỗi. Đây là một nhận xét về cấu trúc, không có nghĩa người xưa “phát minh máy tính”, một câu hay bị nói quá trên mạng.
Đọc từ dưới lên, không phải từ trên xuống
Đây là lỗi số một của người mới. Các hào trong một quẻ được đếm từ dưới lên: hào thứ nhất nằm dưới cùng, hào cuối nằm trên cùng. Lý do theo cách giải thích truyền thống: sự vật sinh từ dưới lên như cây mọc từ gốc.
Hệ quả thực tế: hai quẻ trông như lộn ngược của nhau là hai quẻ khác nhau. Chấn (một hào dương dưới cùng, hai hào âm phía trên) và Cấn (hai hào âm phía dưới, một hào dương trên cùng) là hai quái hoàn toàn khác, một ứng với sấm, một ứng với núi. Vẽ ngược là ra quái khác.
Khi nhìn một bát quái treo trên tường, còn thêm một chuyện: các quái xếp quanh vòng tròn, và “dưới” của mỗi quái là phía gần tâm hình, “trên” là phía ra mép ngoài (theo cách vẽ phổ biến). Một số hình vẽ đặt ngược lại, nên đọc vật thật phải xem kỹ quy ước của chính món đó.
Tám quẻ đơn và cách nhớ không cần học vẹt
Ba hào xếp chồng cho ra 2 × 2 × 2 = 8 tổ hợp. Đó là tám quẻ đơn (còn gọi quái, kinh quái). Viết theo thứ tự hào 1 – hào 2 – hào 3 (dưới lên), L là liền, Đ là đứt:
- Càn ☰: L L L. Ba hào dương, trời.
- Khôn ☷: Đ Đ Đ. Ba hào âm, đất.
- Chấn ☳: L Đ Đ. Dương dưới cùng, sấm.
- Khảm ☵: Đ L Đ. Dương ở giữa, nước.
- Cấn ☶: Đ Đ L. Dương trên cùng, núi.
- Tốn ☴: Đ L L. Âm dưới cùng, gió.
- Ly ☲: L Đ L. Âm ở giữa, lửa.
- Đoài ☱: L L Đ. Âm trên cùng, đầm.
Mẹo nhớ: ba quái “con trai” Chấn, Khảm, Cấn mỗi quái có một hào dương, vị trí của nó đi từ dưới lên giữa lên trên. Ba quái “con gái” Tốn, Ly, Đoài mỗi quái có một hào âm, cũng đi từ dưới lên giữa lên trên. Càn là cha, Khôn là mẹ. Nhớ được câu đó là vẽ được cả tám mà không cần thuộc lòng bảng.
Quẻ kép: hai quẻ đơn chồng lên nhau
Đặt một quẻ đơn lên trên một quẻ đơn khác được quẻ sáu hào, gọi là quẻ kép (biệt quái, trùng quái). Có 8 × 8 = 64 quẻ kép.
- Quẻ đơn phía dưới gọi là nội quái (hạ quái).
- Quẻ đơn phía trên gọi là ngoại quái (thượng quái).
Tên quẻ kép thường đọc theo hình tượng của hai quẻ, trên trước dưới sau. Ví dụ Thuỷ trên, Hoả dưới là quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế; Hoả trên, Thuỷ dưới là quẻ Hoả Thuỷ Vị Tế. Hai quẻ dùng đúng hai quái nhưng đảo vị trí là hai quẻ có ý nghĩa ngược nhau, một là “đã xong”, một là “chưa xong”. Cùng nguyên lý với chuyện đọc dưới lên ở trên: vị trí quyết định nghĩa.
Tên gọi từng hào: sơ cửu, lục nhị là gì
Đọc chú giải Kinh Dịch, người mới hay vấp mấy chữ như “sơ cửu”, “lục nhị”, “thượng lục”. Quy tắc:
- Số cửu (9) chỉ hào dương, số lục (6) chỉ hào âm.
- Vị trí gọi theo thứ tự: sơ (thứ nhất), nhị, tam, tứ, ngũ, thượng (thứ sáu).
- Hào đầu và hào cuối đọc vị trí trước rồi đến âm dương: sơ cửu, sơ lục, thượng cửu, thượng lục. Bốn hào giữa đọc âm dương trước: cửu nhị, lục tam, cửu ngũ…
Vậy “cửu ngũ” là hào dương ở vị trí thứ năm. Đây là vị trí được coi là trung chính của quẻ trên, nên chữ “cửu ngũ” về sau dùng để chỉ ngôi vua. Một chi tiết nhỏ nhưng đọc sách cổ gặp rất nhiều.
Mấy phép biến đổi quẻ hay gặp tên
Không cần dùng ngay, nhưng biết tên để đọc tài liệu khỏi lạ:
- Hào động, quẻ biến: một hào đổi âm thành dương hoặc ngược lại, ra quẻ mới. Đây là cơ chế bói Dịch và cũng là cơ chế Bát trạch dùng để tính tám hướng (đổi lần lượt từng hào của quái mệnh).
- Thác quái: đổi tất cả các hào. Càn thành Khôn.
- Tổng quái (quẻ đảo): lật ngược cả quẻ từ trên xuống dưới.
- Hỗ quái: lấy hào 2-3-4 làm quẻ dưới, hào 3-4-5 làm quẻ trên, ra một quẻ “ẩn” bên trong.
Trong bốn thứ này, phép đổi hào là thứ phong thuỷ nhà ở dùng thật sự.

🔴 Phong thuỷ nhà ở chỉ cần tám quẻ đơn
Điều này đáng nói thẳng để người mới khỏi lạc. Bát trạch, cửu cung, Huyền không ở mức nhà ở đều làm việc với tám quẻ đơn và con số Lạc thư của chúng. Sáu mươi tư quẻ kép là nền của việc bói Dịch và của triết học Dịch, có giá trị riêng, nhưng không cần để tính hướng nhà.
Một số phái nâng cao (như các cách dùng “quẻ” trong la kinh Huyền không) có đưa 64 quẻ vào vòng la kinh. Đó là tầng rất sâu, người học nhà ở bình thường chỉ gặp sau nhiều năm. Ai mới học tuần thứ hai đã được dạy bói quẻ để “xem nhà” thì nên cân nhắc lại nơi mình đang học.
Bài tập tự kiểm
- Không nhìn bảng, vẽ tám quẻ đơn, ghi tên từng quẻ.
- Vẽ quẻ có Khảm ở trên, Ly ở dưới. Đếm xem có bao nhiêu hào dương.
- Lấy quẻ Khảm, đổi hào giữa. Được quẻ nào?
- Cầm một món bát quái thật ở nhà hoặc ở chùa, xác định quẻ nào nằm ở phía trên cùng, và đồ hình đó là Tiên thiên hay Hậu thiên.
Đáp án câu 3: đổi hào giữa của Khảm (Đ L Đ) thành Đ Đ Đ, được Khôn. Câu 4 thì tuỳ món: nếu Càn ở trên cùng, đối diện Khôn ở dưới, đó là Tiên thiên; nếu Ly ở trên và Khảm ở dưới, đó là Hậu thiên.
Nói gọn lại
Bát quái chỉ có hai loại vạch, đọc từ dưới lên, ba vạch thành quẻ đơn, sáu vạch thành quẻ kép. Nhớ được câu “ba con trai một hào dương, ba con gái một hào âm, đi từ dưới lên” là tự vẽ được cả tám quẻ. Với phong thuỷ nhà ở, nắm chắc tám quẻ đơn là đủ; sáu mươi tư quẻ để dành cho lúc mình thật sự muốn học Dịch.